Phạt vi phạm hợp đồng trong đại dịch Covid – 19

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, đại dịch Covid-19 xảy ra gây ra nhiều vấn đề và tác động sâu về mọi mặt đối với cuộc sống của con người. Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, Covid-19 còn kéo theo một loạt hệ lụy về các vấn đề chính trị, khoa học, kinh tế,… Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của đại dịch này sau qua hai lần “bùng dịch”, và Coid-19 cũng tác động nhiều mặt đến đời sống, kinh tế của con người Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ chỉ đề cập đến khía cạnh chủ yếu là tác động của đại dịch đến hoạt động của các doanh nghiệp, dẫn đến các vi phạm đối với hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết trước và trong giai đoạn diễn biến của dịch bệnh và hệ quả là các khoản phạt vi phạm hợp đồng (dựa trên quy định của pháp luật Việt Nam và các bên lựa chọn pháp luật Việt Nam là pháp luật điều chỉnh hợp đồng).

Phạt vi phạm hợp đồng trong đại dịch Covid – 19

 

Trước hết, về phạt vi phạm hợp đồng, Bộ luật Dân sự (sau đây gọi tắt là BLDS) 2015 quy định vấn đề này tại điều 418 như sau: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.” Theo đó, phạt vi phạm phát sinh khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, trong diễn biến của dịch Covid-19, nhiều người viện dẫn lý do “trường hợp bất khả kháng” và từ chối chịu chế tài do vi phạm hợp đồng này. Vậy, theo các quy định của pháp luật, liệu một bên của hợp đồng có thể bị loại trừ khả năng bị phạt hợp đồng do ảnh hưởng của Covid-19?

Về vấn đề “trường hợp bất khả kháng” hay “sự kiện bất khả kháng”[1], đối với các hợp đồng được giao kết trước đại dịch, việc Covid-19 xảy ra dường như đáp ứng 2/3 các yếu tố để nó trở thành một sự kiện bất khả kháng, bao gồm (i) xảy ra một cách khách quan – tức, sự xuất hiện của Covid-19 không phát sinh dựa trên ý chí của một bên nào cả (ii) không thể lường trước được – sự xuất hiện của Covid-19 nằm ngoài dự đoán của các bên trong hợp đồng tại thời điểm giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, đối với các hợp đồng giao kết trong giai đoạn diễn biến của đại dịch này, sự xuất hiện của Covid-19 không làm phát sinh yếu tố “không thể lường trước” cấu thành nên sự kiện bất khả kháng.

Do đó, ngay từ ban đầu, đối với các hợp đồng giao kết trong giai đoạn diễn biến của Covid-19, không thể áp dụng các quy phạm về miễn trách nhiệm[2] đối với sự kiện bất khả kháng để né tránh chế tài phạt vi phạm hợp đồng.

Đối với yếu tố thứ ba cấu thành nên một “sự kiện bất khả kháng”, các bên cần chứng minh được yếu tố “không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Không thể phủ nhận rằng, việc khắc phục Covid-19 nằm ngoài khả năng của bất kỳ chủ thể nào, tuy nhiên, cần nhận định rõ ràng rằng liệu Covid-19 có dẫn đến hệ quả là doanh nghiệp bị ảnh hưởng, và từ đó dẫn đến sự vi phạm hợp đồng hay không.

Nói ví dụ cụ thể, trong bối cảnh một doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ du lịch, vi phạm nghĩa vụ chậm thanh toán theo một hợp đồng (hợp đồng được giao kết trước khi Covid-19 xảy ra tại Việt Nam), thì sự kiện xảy ra Covid-19 khiến doanh thu của doanh nghiệp đó sụt giảm nghiêm trọng (do các biện pháp hạn chế đi lại và giãn cách xã hội) và không còn một dòng tiền nào khác, và dẫn đến hệ quả là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán theo hợp đồng đã ký, thì trong trường hợp này, yếu tố thứ 3 về khả năng khắc phục của một “sự kiện bất khả kháng” được cấu thành, và Covid-19 trở thành sự kiện bất khả kháng để doanh nghiệp này được miễn trách nhiệm chịu chế tài vi phạm hợp đồng.

Lưu ý rằng, BLDS 2015 không quy định rõ phạt vi phạm có phải là trách nhiệm dân sự phải chịu khi vi pham hợp đồng hay không, trong khi Luật Thương mại quy định rõ phạt vi phạm hợp đòng là một trong các trách nhiệm mà một bên phải chịu khi vi phạm hợp đồng. Do đó, trong trường hợp một hợp đồng đường xác lập dựa trên các quy định của Luật Thương mại hoặc, chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại, thì khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đó, dẫn đến chịu chế tài phạt vi phạm hợp đồng, thì nếu xác định được việc đại dịch Covid-19 xảy ra là trường hợp bất khả kháng, thì họ không cần phải chịu phạt.

Còn đối với hợp đồng dân sự thông thường, thì việc miễn trách nhiệm chịu phạt vi phạm hợp đồng sẽ phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên (trong hoặc ngoài hợp đồng).

Ở một ví dụ khác, với một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch trong bối cảnh của ví dụ trên, nhưng dòng tiền của doanh nghiệp này vẫn còn, hoặc, thời gian phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của doanh nghiệp là vào khoảng thời gian tháng 6 (khoảng thời gian Việt Nam không còn các ca lây nhiễm trong cộng đồng, các biện pháp giãn cách, cách ly xã hội được dỡ bỏ, hoạt động du lịch trong nước đã trở về bình thường), thì trong bối cảnh này, điều kiện về khả năng khắc phục để cấu thành “sự kiện bất khả kháng” không đủ, và dĩ nhiên, trường hợp này, không thể áp dụng quy định về “sự kiện bất khả kháng” để né tránh chế tài phạt vi phạm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Tuy pháp luật quy định cụ thể là thế, tuy nhiên, trên thực tế, có thể nhận thấy rằng việc thực hiện phạt vi phạm đối với các trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng với các hợp đồng giao kết trước hoặc trong giai đoạn diễn biến của dịch bệnh là không dễ dàng. Bởi vì các hệ quả của dịch bệnh, việc một chủ thể có thể rơi vào tình trạng không có khả năng hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng không chỉ là hệ quả trực tiếp, mà còn là hệ quả gián tiếp bởi nhiều yếu tố khác nhau. Lấy ví dụ, một doanh nghiệp với nguồn thu đến từ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch Covid-19 không hề là tác nhân trực tiếp đến nguồn thu của doanh nghiệp này, tuy nhiên, các hệ quả từ các vấn đề như người lao động mất việc làm hoặc bị giảm thu nhập,… hoặc các yếu tổ vĩ mô hơn như lạm phát, … lại dẫn đến vấn đề người tiêu dung hạn chế các hoạt động chi tiêu, họ sẽ có xu hướng giữ tiền lại, hoặc quy đổi tiền thành các dạng tài sản khác như vàng,… lúc này, họ sẽ không hoặc hạn chế tối đa chi tiêu vào việc mua các loại hàng hóa, và dẫn đến kết quả là doanh thu của doanh nghiệp bị giảm và thậm chí là bị lỗ từ hoạt động kinh doanh, khi đó, doanh nghiệp “tạm thời” không còn đủ khả năng thanh toán một hợp đồng và dẫn đến hậu quả là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Chính vì thế, trong tình thế hiện nay, việc các một bên muốn thực hiện việc phạt vi phạm cũng rất khó khăn, dù hiểu rằng, việc áp dụng chế tài này là hoàn toàn hợp lý, hợp pháp, tuy nhiên xét về mặt khả năng thực hiện, cần xem xét rằng liệu nó có hiệu quả, hoặc có thể thực hiện được hay không. Do đó, thiết nghĩ rằng việc các bên trong hợp đồng thấu hiểu cho nhau, và thực hiện các biện pháp thỏa thuận thích hợp trước khi áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng sẽ hữu ích hơn, và đồng thời, giúp các bên có thể giảm bớt các hệ quả khác làm gia tăng thêm các chi phí không đáng phát sinh trong thời điểm nhạy cảm hiện tại.

[1] Khoản 1, Điều 156 BLDS 2015.

[2] Điểm b, khoản 1, Điều 249 Luật Thương mại 2005; khoản 2, Điều 351 BLDS 2015.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt